HCM Update






* Là con Dân nước Việt + Là con Rồng cháu Tiên /// Bạn làm được gì cho Quê Hưong và Dân Tộc VIỆT thoát khỏi dưới ách thống trị của bè lũ CSVN hèn với Giặc và ác với Dân ? *

*
Không cần biết Bạn ai? - Trong công cuộc Đấu Tranh Đòi lại Quyền Tự Quyết cho Dân Tộc - Bạn Bạn của Giới Trẻ Việt Nam Chúng Tôi *

Smile

http://1.bp.blogspot.com/-i5EbqKIEN5M/UuZ-Bch7UKI/AAAAAAAAHY0/dUE5CCEZl-A/s1600/3f1df5d2.gif

BREAKING NEWS



* NHÂN NĂM MỚI MỞ LẠI HỒ SƠ tên TẦU HẸ HCM




“...Sự thực, Hồ Tập Chương (HCM) đã dâng Ải Nam Quan cho đảng CS Trung Quốc, vào ngày 01/10/1950, ngày quốc khánh CS Trung Quốc...”

LTS: Quý bạn đang theo dõi loạt bài của tác giả Huỳnh Tâm. Đây là một công trình thu thập tài liệu vô cùng gian nguy, đến 2 lần bị thương, và đầy thử thách. Tác giả đã vào sanh ra tử để cứu vớt những bạn thân, vướng vào lâm nguy ở bên Trung quốc và nhờ đó đã trở thành nhân chứng trong cuộc chiến Việt-Trung năm 1979-1998 và những năm sau này. Vì tài liệu được ghi theo mật mã của tình báo Hoa Nam nên việc giải mã đòi hỏi nhiều công sức. Tác giả phải chuyển ra tiếng phổ thông Trung hoa, rồi sau đó dịch sang tiếng Việt, do đó độc giả sẽ thấy những đoạn hành văn giới hạn trong mật mã. Những hình ảnh đính kèm thiên phóng sự này cho thấy những tài liệu mật chưa từng xuất hiện trên báo chí và phương tiện truyền thông hiện nay. Những sự kiện tưởng chừng khó tin nhưng rồi sẽ được đưa ra anh sáng. Xin bạn đọc tiếp tục theo dõi.

Họa thực dân chưa đi, ác CS đã kéo vào quê hương.
Một nhà kho nhỏ, chứa nhiều kệ sách báo, thứ tự danh mục, tư liệu giá trị, chúng thản nhiên ngủ yên 24 năm (1987‒2011). Bỗng một sớm mai mùa Đông vào dịp Noël 25/12/2011. Những sổ tay, hồi ký báo hiệu đã nằm trên kệ sách quá lâu, nơi vị trí trang trọng với sức nặng 63,3 kg. Chúng muốn chui ra từ trong một thùng xốp, gói bằng lớp nilon nén dày, chống ẩm cao, chịu đựng mọi thời tiết. Mười tám ngàn sáu trăm lẻ hai (18.602) trang hồ sơ, trong sổ tay, hồi ký vừa đứng lên vẫn còn sớ giấy mới, chính những lời nói bí ẩn của những người tình báo Trung Quốc. Chúng nói về thế sự của một đất nước xa xăm, nơi ấy đời sống xã hội lúc nào cũng rối bời không bao giờ người dân được hưởng thanh bình, và không có quyền suy tư cho chính họ.

Cùng lúc được tin, những chủ nhân sổ tay và hồi ký, không còn bao nhiêu người sống tại lục địa Trung Quốc, những tên tuổi tình báo Trung Quốc đã đi vào quá khứ, nhưng tư liệu còn sống mãi mãi bởi nó bí mật chuyển đến một mã số người chỉ huy "Cụm mây". Họ ghi chú tỉ mỉ từng chi tiết nội dung ngày đầu Cộng Sản Đông Dương (Pắc Bó) và CS Bắc Kinh hôn nhau thấm thiết, "Răng hở môi lạnh". Bí mật nào cũng chui ra từ bóng tối của Cát Thuần – Miêu Tuần Hóa (猫驯化), Đào Trinh (领导), HCC (美国郗蹉嗯), ĐBA – Đặng Bình Ánh (当平映), Trung Ương Cục (中央翼), HHN-Hà Hạ Nhân (何夏仁), Lương Quang Liệt (梁光烈), Trương Dũng- Trương Đình Tuyển Dũng (张庭选勇), Phùng Huy – Ư Y Bồng (于伊蓬), Chánh Phủ (政府). Và một số tư liệu riêng thu thập được trên chiến trường biên giới Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam, giáp Vân Nam, Quảng Tây Trung Quốc từ năm 1979-2010, đồng thời những tư liệu nền Đệ nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, sau ngày 30/04/1975. Phơi bày một cục diện đất nước Việt Nam trải qua bóng ma tình báo CS Trung Quốc.

Để nói lên những gì chưa phơi bày ra ánh sáng, và muốn đọc thật lớn những gì trong sổ tay của ĐBA (当平映), thế nhưng mới đọc vài trang giấy đã thấy choáng váng bởi nội dung tình báo của đảng CS Trung Quốc hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam, và đảng CSVN ngày nay đích thực là hình "nhân" của CS Trung Quốc.

Mỗi sổ tay hầu hết ghi chú tất cả mã số hồ sơ, không khác nào rừng mây bao phủ trùng trùng bí mật. Chính cá nhân người tình báo, thú nhận ngày về chiều hay đã chết cũng không ai biết họ đem theo những gì! Tuy nhiên có một qui thức CSTQ buộc người tình báo tự nguyện làm thành lũy bao phủ trong lòng quốc gia khác (VN), riêng vùng cấm địa CS Trung Quốc người tình báo phục vụ cho những cái đầu chứa chất liệu đen lừa dối thiên hạ, CSTQ tự hãnh diện điên rồ dùng mỹ từ "nghĩa vụ CS Quốc Tế", đưa thiên hạ vào thế giới đại đồng lu bù, đến nay CS đã trở thành ảo tưởng.

Đôi lúc đọc được những giòng chữ: Người tình báo khao khát muốn sống bằng tên tuổi thật bình thường, đời sống tự do không còn tiếp nhận mệnh lệnh "vào sinh ra tử", thế nhưng nào ai có biết, người tình báo CS khi về chiều, sinh ra mâu thuẫn. Chính mình, thám thính mình để tránh né địch thủ (CSTQ). Một điều lạ không thể ngờ trong sổ tay của ĐBA (当平映), có viết một đoạn so sánh cùng một thời Tôn Trung Sơn sáng lập phong trào Tam Dân Chủ Nghĩa ở Trung Hoa, CS đang ồn ào ở nước Nga và Trung Hoa, riêng Việt Nam có Phan Châu Trinh với phong trào Duy Tân, mục đích đánh đổ chuyên chế, lập dân quyền tự do: Mùa hè năm 1906 có nhà chí sĩ Phan Châu Trinh về nước Việt Nam, dấn thân vào lòng cõi dân tộc, gieo tư tưởng Duy Tân vào lòng dân, đầu tiên ông gửi một bức thư chữ Hán "Đầu Pháp chính phủ thư" cho Toàn quyền Paul Beau vạch trần chế độ phong kiến thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ-dân nước Việt Nam và sửa đổi chính sách cai trị để giúp nhân dân Việt từng bước tiến lên văn minh.

Sau đó, Phan Châu Trinh đưa ra phương châm hoạt động "Tự Lực Khai Hóa" cùng tư tưởng dân quyền. Phan Châu Trinh cùng hai người bạn thân Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đi khắp nơi truyền bá phong trào Duy Tân. Vận động quần chúng qua các khẩu hiệu của phong trào: "Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh". Phương thức hoạt động của phong trào bất bạo động, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, cải cách trên mọi lãnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu gọi cắt tóc ngắn, cắt ngắn móng tay v.v...

Thời gian này, ông viết bài "Tỉnh quốc hồn ca", kêu gọi người dân theo hướng Duy Tân, Dân Chủ, người dân tiếp nhận hưởng ứng, lần lượt lập ra trường học, thư xã, thương hội, hội nghề nghiệp v.v...

Tiếc thương nhà chí sĩ Phan Châu Trinh thừa ý chí nhưng không đủ thời gian truyền bá tư tưởng Duy Tân tiến bộ. Ông qua đời lúc 21 giờ 30 phút, đêm 24 tháng 3 năm 1926, tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn. Hưởng thọ 54 tuổi (1872-1926). Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam.


Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Ảnh: internet

Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh để lại cho hậu thế những tác phẩm đáng đọc:
Ðầu Pháp chính phủ thư (1906)
Hợp quần doanh sinh thuyết quốc âm tự (1907)
Tây Hồ thi tập (tập hợp thơ làm trong nhiều năm)
Tuồng Trưng Nữ Vương (soạn chung với Huỳnh Thúc Kháng và Phan thúc Duyên (1910)
Trung Kỳ dân biến tụng oan thủy mạt ký (1911)
Santé thi tập (gồm hơn 200 bài thơ, soạn trong tù tại Pháp (1915)
Thư thất điều (thư vạch 7 tội của vua Khải Định (1922)
Giai nhân kỳ ngộ diễn ca (7.000 câu thơ lục bát, soạn (1912-1913)
Tỉnh quốc hồn ca I, II (phần I, viết tại Việt Nam (1907), phần II, viết tại Pháp (1922). Đây là thơ hiệu triệu, thức tỉnh đồng bào, tạo dân khí mạnh, đề cao dân quyền)

Bức thư trả lời cho người học trò tên Ðông (1925)
Đông Dương chính trị luận (1925)

Ngoài ra, ông còn có các bài diễn thuyết về Đạo đức và luân lý Đông Tây, Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa, một số thơ (không nằm trong Tây Hồ thi tập) và nhiều câu đối chữ Hán ông làm từ 1902-1912...

Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh qua đời, Việt Nam rơi vào một khoảng trống rỗng. Đến thế hệ 1940 gặp phải đất nước có bàng tay bí ẩn CS, họ từ đâu đến, gieo rắc quá nhiều uất ẩn, gây chia rẽ trong lòng dân tộc Việt Nam; người dân VN tự mất cơ hội khôn ngoan để phản ứng trước tình thế đất nước đang lột xác ra khỏi đô hộ của người Pháp. Đất nước đang cần người có đủ bản lĩnh, thúc dục phong trào Duy Tân, đánh đổ chuyên chế, lập dân quyền tự do cho Việt Nam, hầu như không có ai! Lại một lần nữa, mọi tần lớp người dân yêu nước tiếp tục thiếp ngũ!

Bỗng năm 1940. Ngài Phạm Công Tắc, báo động đất nước đến hồi lâm nguy, tuyên bố: "Hôm nay đất nước Việt Nam chỉ có một trái đắng đỏ Hồ Chí Minh không trừ khử, mai sau ắt cả nước Việt Nam sẽ bị nhuộm đỏ". Lời báo động chưa bay xa, CS Trung Quốc đã ào ào kéo đến, gieo vào Pắc Bó biên giới Việt Nam một Hồ Tập Chương (HCM) thân thế bí mật.

Càng tìm hiểu vào lãnh vực tình báo CS Trung Quốc, lòng càng xây xẩm, bởi hồ sơ tình báo dày đặc, tối cả vung trời Việt Nam. Lòng bừng nóng tự hỏi: Lý do nào người Việt Nam sợ hải chạy theo ảo ảnh CS Trung Quốc, một cách mù quáng để rồi ngày nay nhuộm đỏ cả giang sơn đất nước Việt Nam!

Đến lúc cần phải giải mã một thứ mây trôi khó đoán định về tình báo CS Trung Quốc đã ngự trị trên đất nước Việt Nam 70 năm qua, cũng phải đến lúc cần suy nghiệm tìm một ít ánh sáng dẫn đến nội dung mã số bí ẩn, hy vọng tìm được mọi chân tướng tình báo cơ sở của CS Trung Quốc trên đất nước Việt Nam. Dù lắm trở ngại hay vất vả cũng khởi hành vào thế giới không thấy bóng người, đôi lúc bước chân đến nơi cánh cửa mã số vừa hé mở, liền bị phản gián CS Trung Quốc (中国共产党反间谍) báo động chuyển qua hướng khác! Thêm một lần nữa, và rất nhiều lần khởi lại hành trình mới, cứ thể một bóng đen đi giữa ban ngày, lây nhây tìm nội dung cần thiết có khả năng giải mã. Tuy có 63,3 kg, trên 18.602 trang hồ sơ, có mã số đã ở trước mặt, thế nhưng mọi tư liệu khó hiểu, nào ai biết nó nói những gì bởi những tờ giấy quá khôn ngoan, cuối cùng được em (A)....hướng dẫn một phương thức giải mã morse thông minh. Cảm ơn em (A).... nhiều và nhiều.

Thì ra, mọi mã số bước ra từ Quân Ủy Trung Ương Trung Quốc (CPC). Thuộc chỉ đạo 24 Tổng cục tình báo và cơ quan, hoạt động trong mã số ấn định. Tổng cục 16 ấn bản mã số, nơi nghiên cứu kế sách hành động cho từng Cụm mây.

Image
Mã số VN0841. Morse Code Beacon Keyer Electronic Circuit
(Quốc phòng).Nguồn: CPC-HN.1950.

Image
Mã số HN1941S. Music have Morse code (Nhà nước).
Nguồn: CPC-HN.1950

Image
Mã số HN010232. (01/02/1950). Morse Code Forever (Văn kiện tình báo)


Theo tình báo Hoa Nam, vào thời điểm 1987, máy truyền thông hay Radar định vị, thường bị phá sóng, mật mã lọt ra ngoài, cho nên tình báo Hoa Nam vẫn sử dụng Morse. Nguồn: CPC-HN.1950

Theo hồ sơ tình báo Hoa Nam (MSS) mã số HN0841: Đầu mùa Xuân năm 1940, đảng CS Trung Quốc lấy quyềt định bành trướng xuống Việt Nam, cho ra đời Cộng Sản Đông Dương (印度支那共产党 - Ấn độ chi na cộng sản đảng). Đến ngày 08 tháng 02 năm 1941, đảng CSTQ chọn biên giới Việt Nam làm thí điểm. Từ đó Việt Nam gặp phải một luồng mây nghìn nghịt đen, từ Phương Bắc kéo đến địa danh Pắc Bó thuộc bản Bó Bẩm, gần các bản Khuổi Nậm, Nà Kéo, Nà Mạ, Nậm Lìn và Nà Lẹn thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Việt Nam, giáp ranh biên giới khu tự trị dân tộc Choang thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Tại cửa ngõ Pắc Bó cho ra luồng khí bẩm lạnh tanh, tràn lan giá buốc thấu xương bản làng biên giới, không bao lâu vào sâu lãnh thổ Việt Nam. Đúng lúc tình thế Việt Nam sôi động chính trị, từng giờ nóng lạnh bất thường. Gió Tây độc chuẩn bị giả từ trăm năm đô hộ Việt Nam, đột biến gió da vàng xuất hiện, Nhật Bổn, Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Gió da vàng CS Trung Quốc có lợi thế hơn, thừa dịp thổi tốc mái nhà Việt Nam.

Image
Một góc bản đồ tỉnh Cao Bằng SGI 1/100.100 năm 1948.
Khu vực hang Pắc Bó kế cận các cột mốc 107, 108…
thời Pháp-Thanh. Ảnh: (HN-MSS).


Bắc Kinh cho Hồ Tập Chương (gốc Hẹ, nguyên quán Đài Loan - xem tài liệu “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” HoChiMinhSinhBinhKhao của Hồ Tuấn Hùng) thực hiện điệp vụ nhập xác Hồ Chí Minh (chết tại Hương Cảng năm 1932). Mã số HN1941S trong bàng tay phù thủy Bắc Kinh vận dụng hết khả năng hướng dẫn dư luận, đẩy nhịp độ cơ sở CS Pắc Bó thành con chim đầu đàn Đông Dương.


Bắc Kinh đứng trong vách núi, lệnh ban hành kế hoạch, định thời, dựng thế, tạo khí hậu nóng gắt, trút xuống một trận mưa CS trên đầu người dân Việt Nam, vốn không đề phòng hậu quả, tác hại lâu dài của khí độc CS, có người háo hức đến nỗi mơ hồ, uống nước mưa CS hy vọng chữa trị bá bệnh kinh niên nhược tiểu, không ngờ dịch CS ăn vào xương tủy, nó tự hoành hành, phá banh lục phủ, ngũ tạng dân tộc Việt Nam.

Image
Hồ Tâp Chương (HCM) bí mật đi qua Ải Nam Quan
đến Quảng Tây, vào ngày 16-01-1950. HCM trùm khăn đứng
thứ hai bên phải hình. Ảnh: (HN-MSS).


Một mã số HN011050. Hiện lưu trữ tại Học Viện Quân Sự Tình Báo Bắc Kinh (北京智能军校 – Bắc Kinh chí năng quân hiệu). "Hồ Tập Chương thay mặt đảng CS Đông Dương, tham dự quốc khánh Trung Quốc ngày 01/10/1950. Ông tuyên bố: "Từ ngày có đảng ta, khai hóa được nhược tiểu chư hầu VN, đến với trào lưu nghĩa vụ CS Quốc Tế, nay kính dâng lên đảng tùy nghi sử dụng cơ sở CS Đông Dương. Mao Chủ Tịch muôn năm"!
(之日起,我们党,文明的主要缺陷越南后,国际共产主义运动的进 展,这种玻璃上升的基础处理越南共产党,万岁毛主席 - Chi nhật khởi, ngã môn đảng, văn minh đích chủ yếu khuyết hãm Việt Nam hậu, quốc tế cộng sản chủ nghĩa vận động đích tiến triển, giá chủng pha ly thượng thăng đích cơ sở xử lý Việt Nam Cộng Sản Đảng, vạn tuế Mao chủ tịch).


Ải Nam Quan trải qua các thời kỳ nhà Hán đặt tên: Úng Kê Quan,
sau là Kê Lăng Quan, Giới Thủ Quan. Đến thời Gia Tĩnh nhà Minh
đặt tên: Trấn Nam Quan. Ngoài ra, phía Việt Nam đặt tên:
Ải Pha Lũy, trước thế kỷ 12 đã có tên Ải Nam Quan.

Người viết bài này xin trình bày đặc điểm hình thù của Ải Nam Quan bởi có đến nơi tham dự trao trả tù binh chiến tranh biên giới Việt Nam và Trung Quốc tại địa điểm Ải Quan Trung Hoa (中国通), vào lúc 11 giờ, ngày 01 tháng 9 năm 1987 với tư cách ký giả. Nhân dịp dùng một photo chụp những năm cuối TK19 để chứng minh.

Chúng ta thấy đường lên cửa ải chạy dài từ Việt Nam xuyên qua con đường dốc thẳng đến chính diện cửa ải (nhỏ), nơi cửa ải nhỏ này thuộc về Trung Quốc với tên Ải Quan Trung Hoa (中国通), đã có từ ngàn đời, chính giữa cách khoảng đất trống của 2 ải (vùng phi quân sự), trung tâm một đường chiều dài 100m lót đá, cứ 10m chôn sâu một tảng đá làm mô (chướng ngại vật), theo nguyên tắc cắm móc biên giới từ xưa đến nay vẫn thế, hai ải xây dựng kích thước và kiến trúc như nhau và mỗi quốc gia đặt trạm canh biên phòng.

Lý do hình thù cửa ải bên Việt Nam thay đổi. Vào năm 1774, Ðốc trấn Lạng-Sơn, Nguyễn Trọng Ðang cho trùng tu xây dựng kiến trúc mái ngói cong theo văn hóa Việt Nam, cũng có ý biểu thị cửa ải nói lên tinh thần dân tộc Việt Nam, và phân biệt hai cửa ải.


Đến ngày 26 tháng 6 năm 1887, Pháp và Nhà Thanh ký Công Ước Về Hoạch Ðịnh Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ngày 21 tháng 04 năm 1891 tiến hành cắm cột mốc tại vùng biên giới Ải Nam quan.

Định lệ, Pháp-Nhà Thanh căn cứ theo Công Ước Về Hoạch Ðịnh Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc: "Từ nay Trung Quốc có Ải Quan Trung Hoa (中国通). Việt Nam có Ải Quan Việt Nam (谁越南)". Pháp-Nhà Thanh đồng ý xây dụng lại cửa ải, kích thước lớn 100%. Một lần nữa cửa ải thay đổi kiến trúc, Pháp thực hiện trước, xây dựng lại hoàn toàn mới, theo mô hình kiến trúc cũ của Ðốc trấn Lạng-Sơn, Nguyễn Trọng Ðang. Từ đó cửa Ải Quan Việt Nam (谁越南) đồ sộ, tấm vóc hùng vĩ. Nhìn qua cửa Ải Quan Trung Hoa (中国通) nhỏ bé cho đến năm 1950.

Sự thực, Hồ Tập Chương (HCM) đã dâng Ải Nam Quan cho đảng CS Trung Quốc, vào ngày 01/10/1950, ngày quốc khánh CS Trung Quốc, và ông ta tự đổi tên Ải Nam Quan thành Mục Nam Quan, đến năm 1953 Quốc Hội Trung Quốc phê chuẩn thông qua với cái tên mới Mục Nam Quan. Một lần nữa, vào năm 1965 theo yêu cầu của đảng CSTQ đề nghị Hồ Tập Chương đổi tên Mục Nam Quan thành Hữu Nghị Quan. Báo chí CSVN đồng ca bài Hữu Nghị Quan, hướng dẫn dư luận thành công, một mỹ từ Hữu Nghị Quan quả nhiên dối trá được cả một dân tộc. Đến năm 1979, mới thực sự có ba tên, một Ải (Ải Nam Quan, Mục Nam Quan, Hữu Nghị Quan). Ngày nay cửa Ải Quan Trung Hoa (中国通) không còn, và (vùng phi quân sự), trung tâm một đường chiều dài 100m lót đá, cứ 10m chôn sâu một tảng đá làm mô (chướng ngại vật) đã biến mất; để nhường lại đường vận tải vũ khí cung cấp cho CS Đông Dương vào năm 1950.

Thương thay cho Cha-Ông ta xây dựng một dãy giang sơn gấm vóc Việt Nam, quá hoàn bích từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Nay đảng CSVN hai tay liền dâng hiến Ải Nam Quan cho CSTQ. Từ nay dấu chân tiền nhân Việt Nam không còn trong ký ức nhân loại và bản đồ thế giới chính thức xóa sổ Ải Quan Việt Nam (谁越南), người Việt mình, miệng gọi: "Ải Nam Quan" đã quen, nay không còn để gọi!

Thành lập nhà nước CS Pắc Bó
Đảng CS Đông Dương chuyển động, núp sau bóng tối của CSTQ để làm thây ma, CSTQ thừa dịp đẩy mạnh hướng dư luận, quảng cáo một nhân vật tình báo Hồ Tập Chương (HCM) (xem tài liệu “HoChiMinhSinhBinhKhao” của Hồ Tuấn Hùng)(HCM) gốc Hẹ, sinh tại Đài Loan, và đánh bóng, suy tôn lên tầm cở thánh tổ dân tộc VN. Bản thân Hồ Tập Chương thuộc chi bộ đảng CSTQ. Còn nhiều nhân vật tình báo chiến lược khác của Trung Quốc, tạm thời ẩn mình trong lớp áo Trung ương đảng CS Đông Dương. Đến nay chỉ mở được vài gói mã số, khó ai biết rằng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 08 năm 1911 tại Bắc Kinh Trung Quốc (tình báo Hoa Nam MSS), một hồ sơ khác của đảng CS Đông Dương, tạo dựng Võ Nguyên Giáp sinh tại tỉnh Quảng Bình Việt Nam.

1935 Võ Nguyên Giáp (武元甲), Nguyễn Chí Thanh (阮成志) được CS Trung Quốc đào tạo tại Học viện Quân sự Vân Nam (大将,越南国防部部长兼越南人民军总司令).
Đến ngày 08 tháng 02 năm 1941. ĐCSTQ thành lập một chính quyền Đỏ bù nhìn, và bộ máy chiến tranh thu nhỏ, trên 175 Quân cán chính từ Trung Quốc, đổ bộ đến hang Pắc Bó.


Những tên Tần Thủy Hoàng con, tung hoành trong Việt Nam Cộng Sản Đông Dương. Trường Chinh, Hồ Tập Chương (HCM), Cố vấn Đại tướng Trần Canh (陈能). Trung tướng La Quý Ba (三季度), gốc Giang Tây, cố vấn trưởng, Đại sứ Trung Quốc tại Chiến khu Việt Bắc (Pắc Bó) năm 1950. Ảnh: THX.

Tổ chức bộ máy chiến tranh gồm có:

Chủ Tịch: Hồ Tập Chương (HCM) quyền đảng trưởng CS Đông Dương. CSTQ biệt phái Đại tướng Trần Canh (陈能), Tổng Tham mưu Trưởng Quân sự, cố vấn CSĐD.

Tổng Bí Thư: Trường Chinh quyền BT/CSĐD. CSTQ biệt phái Thượng tướng Đặng Dật Phàm (置风扇), cố vấn Đảng Ủy Trung Ương.

Thủ tướng: Phạm Văn Đồng quyền Thủ tướng CSĐD. CSTQ biệt phái Trung tướng La Quý Ba (三季度), làm Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, cố vấn Cán chính, thành lập chính phủ CSĐD.
- Tổng Thanh tra Chính phủ, Cố vấn Trung tướng Từ Văn Cương (从范).
- Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Cố vấn Trung tướng Hàn Lộc Tướng (南禄一般).

Ngoại giao: Hoàng Văn Hoan Đại sứ CSĐD tại Bắc Kinh.

Tòa án Quân sự Trung ương: CSTQ biệt phái Trung tướng Mai Gia Sinh (麦嘉双曲正弦), tham mưu phó, Tổng cục Chính trị, kiêm nhiệm Tòa án Quân sự Trung ương.

Tòa án Nhân dân Tối cao: CSTQ biệt phái chuyên gia Tình báo, Quân báo, Thượng tướng Vương Nghiên Tuyền (美国研究事业), chủ nhiệm Tư pháp, cố vấn tác động quần chúng ( khích động).

Tòa Lao động: CSTQ biệt phái Trung tướng Trương Sinh Hoa (张庭广和市), chủ nhiệm Tòa Lao Động, cố vấn Tư pháp.

Quốc phòng: Võ Nguyên Giáp (武元甲) quyền Bộ trưởng Quốc phòng CSĐD. CSTQ biệt phái Thượng tướng Vi Quốc Thanh (韦国清) tham mưu trưởng cố vấn Quân sự, kiêm nhiệm đào tạo Tổng Cục Tình báo CSĐD. Thượng tướng Đặng Thanh Hà (当薄哈), chủ nhiện đào tạo Quân cán chính đảng bộ CSĐD. Mở hai trung tâm đào tạo quân sự Nam Ninh và Kaiyuan ở Vân nam, mỗi khoá 6 tháng.

Bộ binh: Trung tướng Vu Hóa Thầm (武安和), tham mưu trưởng quân đoàn, cố vấn các binh chủng. Đại tá Lý Ngọc Tiên (玉田) cố vấn Lục Quân, Đại tá Trần Ngũ Quan (五泉陈) cố vấn Học viện quân sự.

Pháo binh: Trung tướng Đậu Kim Ba (金三豆), tham mưu trưởng pháo binh, cố vấn Quân chủng Phòng không. Trung tá Trương Tường (张长城),

Lục quân: Trung tướng Phương Phương (横幅本地), chủ nhiệm Quân chủng Lục quân. Đại tá Hồ Thiên Thuỷ (何添翠). Đại tá Triệu Thuỵ Lai (万瑞丽),

Báo vụ điện đài: Thiếu tướng Tống Nhược Thạch, (童缺点撒奇) chủ nhiệm báo vụ điện đài, và các thành viện. Đại tá Lưu Chấn Hải (刘珍海), Thiếu tá Đinh Chấn Quang (与拦截器), Thiếu tá Lý Văn Đạt (范逸), Thiếu tá Bành Chi Lan (彭兰).

Quân báo: Trung tướng Lỗ Hiển Dư (显示多余的孔), đặc trách huấn luyện Quân báo, cố vấn Văn phòng các Bộ, dưới quyền có những thành viện: Đại tá Chu Ngọc Đường (储玉平阳), Thượng tá Quý Lai Hỷ (赖海兰), Thiếu tá Phú Từ Hán Văn (从东汉范),
Công nghiệp Quốc phòng: Trung tướng Trương Quảng Hoa (张庭广和市), văn phòng đoàn quân sự, cố vấn Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Tình báo MSS: Thượng tướng Diên Nguyệt Canh (荣裕), chủ nhiệm tình báo Hoa Nam MSS. Thiếu tướng Vương Chấn Hoa (王稹华), đặc trách huấn luyện Tình báo, và các Cơ quan, đơn vị khác trực thuộc Quốc phòng. Thượng tướng Vương Gia Tường (黄墙), Phó chủ nhiệm cục Tình báo, dưới quyền có những thành viện như: Đại tá Triệu Tồn Hiếu (百万储备), Đại tá Tiết Tảo Ngọc (先進的藻類玉), Đại tá Quách Minh Kiếm (郭台銘搜索), Đại tá Vương Vĩnh Đức (美國榮德), Trung tá Lý Tiên Xuân (黎梯摁軒), Trung tá An Đình Lan (安庭蘭), Trung tá Quách Hữu (郭友).
- Trung tướng Lý Văn Nhất (凡山一) tham mưu trưởng Quân pháp Quân đoàn.
- Trung tướng Chu Hạc Vân (朱鶴範) tham mưu trưởng Quân đoàn Pháo binh.
- Thượng tướng Trương Quảng Hoa (張庭廣和市) cố vấn Học viện quân sự, đặc trách trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn, (trong lãnh thổ Trung Quốc).
- Trung tướng Trương Chí Thiện, (张庭选智添) chủ nhiệm kế hoạch chiến lược.
- Chuyện viên Lý Hàm Trân (火腿陳) chủ nhiệm viện Hộ lý (vợ của Trung tướng La Quý Ba Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam).
- Chuyện viên Hứa Kỳ Thanh (应许之国) chủ nhiệm binh đoàn Hộ lý (vợ của Thượng tướng Đặng Dật Phàm cố vấn Đảng Ủy Trung Ương, kiêm nhiệm đào tạo Tổng Cục Tình báo CSĐD).

Hậu cần: Trung tướng Vu Bộ Huyết (武血), Tổng cục Hậu cần, chủ nhiệm trưởng Quân nhu, Quân dụng. Thiếu tướng Mã Tây Phu (代碼西方夫人), Tổng cục tài chính, lương thực. Thiếu tướng Lý Học Thư (心理學的信), Quản lý vật tư. Đại tá Dương Đồng Văn ( ), chủ nhiệm cục trưởng Kế toán.

Tư Pháp, Nội vụ: Tượng tướng Nhạc Tinh Chiếu (基本的音樂篩選) chủ nhiệm Nội vụ kiêm nhiệm cục trưởng Công an. Thiếu tướng Châu Dật Chi (歐洲地球) đào tạo Kỹ thuật Công an. Lực lượng biên phòng. Thiếu tướng Hứa Kỳ Thanh (應許之國) vụ viện tình báo Lào, và Campuchia. Thiếu tướng Độc Kim Ba (單金巴) chủ nhiệm Cảnh sát, đặc ủy vụ viện tình báo miền Bắc VN. Thiếu tướng Hoàng Vi (晃六) vụ viện tình báo miền Trung VN. Thiếu tướng Châu Khuê (歐洲) tham mưu vụ Công an, vụ viện tình báo miền Nam VN.

Ngân hàng, Tài chính: Trung tướng Vân Dật (範逸), chủ nhiệm cục trưởng Tài chính. Trung tướng Thiên Hựu (神退休), chủ nhiệm cục trưởng Ngân sách quốc phòng. Trung tướng Thôi Ngô (來武) Viện trợ, kiêm nhiệm Phó ban chính trị đảng. Trung tướng Lý Quế Minh (闕胡志明市), cố vấn Ngân hàng CSĐD. Thiếu tướng Trương Ngọc Phong (張庭選玉海防), chủ nhiệm cục trưởng Kế toán.

Thông tin và Truyền thông: Thiếu tướng Trần Thủ Thành (陳星期四會員), chủ nhiệm tổng cục Báo vụ viên, kiêm phóng sự ảnh Hoa Nam MSS. Thiếu tướng Hà Thiệu Vũ (下阮文紹武), trưởng vụ viên Báo chí, chính ủy. Thiếu tướng Lương Trung Ngọc (陳德良的玉), phát ngôn viên chính phủ, kiêm đào tạo Báo vụ viên. Thiếu tướng Vương Chấn Phu (美國毯子), chủ nhiệm đào tạo truyền thông, kiêm nhiệm Quân bưu. Thiếu tướng Đỗ Kiến Hoa (做建華), chủ nhiệm Bộ Tư lệnh Quân khu, cố vấn các quân đoàn chủ lực.

Văn hóa, Giáo dục, Đào tạo: Thượng tá Lâm Quân Tài (遴驅埯財經), chủ nhiệm trưởng Hoa Văn. Thượng tá Trương Hưng (張庭選紅), chủ nhiệm Tôn giáo. Thượng tá Dương Cẩm Sơn (平陽才可兒子), chủ nhiệm cục trưởng giáo dục Văn hóa. Thượng tá Hoàng Kính Văn (皇家玻璃辦公).


Tướng lãnh Trung Quốc thành viên trung ương lãnh đạo CS Pắc Bó. Ảnh: (HN-MSS).

Quân đoàn: Thượng tướng Vương Thừa Vũ (的蘇阿武 ), Tham mưu trưởng Sư đoàn 308.
Thiếu tướng Lê Quang Đạo (經濟道), chính uỷ Sư đoàn 308. Thượng tá Vương Thạc Tuyên (美國碩士宣言), cố vấn Sư đoàn 308. Trung tá Diêm Thử Khánh (有趣慶), chỉ huy trưởng trung đoàn 36, Sư đoàn 308. Trung tá Chu Diêu Hoa (週期調控), chỉ huy Trung đoàn 88, Sư đoàn 308. Trung tá Điền Đại Bang (進入大爆炸), chỉ huy Trung đoàn 102, Sư đoàn 308. Thiếu tướng Vương Vĩnh Pháp (美國榮法國), Tham mưu trưởng Sư đoàn 312. Thiếu tướng Tăng Diên Vỹ (增加光圈), chính uỷ Sư đoàn 312. Đại tá Nghiêm Dục Sinh (嚴格教育學生), cố vấn Sư đoàn 312. Trung tá Hầu Hàn Giang (最邗江), chỉ huy trưởng trung đoàn 36, Sư đoàn 312. Trung tá Hàn Lộc Tướng (南祿一般), chỉ huy trưởng trung đoàn 165, Sư đoàn 312. Trung tá Thái Dũng (泰國阮晉勇), chỉ huy trưởng trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Thiếu tướng La Tự Hiền (洛杉磯車展), Tham mưu trưởng Sư đoàn 316. Thiếu tướng Triệu Tích Phong (百萬斯里蘭卡室), chính uỷ Sư đoàn 316. Thượng tá Như Phụng Nhất (由於鳳凰第一), cố vấn Sư đoàn 316. Trung tá Dương Tiến (海洋博士), chỉ huy trưởng trung đoàn 98, Sư đoàn 316. Trung tá Nhiệm Cùng (團一起), chỉ huy trưởng trung đoàn 174, Sư đoàn 316. Trung tá Kiếm Anh (搜索英國), chỉ huy trưởng trung đoàn 176, Sư đoàn 316. Thiếu tướng Phó Hiếu Trung (中國國務院副), Tham mưu trưởng Sư đoàn 304. Thiếu tướng Sư Địch Anh Kiệt (翻譯武文傑), chính uỷ Sư đoàn 304. Đại tá Trương Nãi Chiêm (章嗯愛沾), cố vấn Sư đoàn 304. Trung tá Lưu Sư Tường (保存的相似性), chỉ huy trưởng trung đoàn 9, Sư đoàn 304. Trung tá Vương Nghị (美國法令), chỉ huy trưởng trung đoàn 57, Sư đoàn 304. Trung tá Tôn Đức Tu (文件太陽), chỉ huy trưởng trung đoàn 66, Sư đoàn 304.

Quân Y: Trung tướng Bác sỹ Lý Kiện Hoa (李建華), Tổng cục trưởng Quân y. Thiếu tướng Lâm Quân Tài (遴驅埯財經), Tổng cục phó Quân y. Thiếu tá Mạnh Đông Thăng (勝強), cố vấn Trợ lý thương binh. Thiếu tá Trần Bình Sơn (鎮平子), quảng trị bệnh xá. Thiếu tá Tập Tùng Anh (東英格蘭), đào tạo y tá.


Các cấp chỉ huy Trung đoàn của quân đội Trung Quốc,
đóng quân tại bản Khuổi Nậm, Nà Kéo, Nà Mạ, và Nậm Lìn
thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ảnh: (HN-MSS).
Tất cả 11 trung đoàn bộ binh, còn có toàn bộ Sư đoàn công pháo 351 (45 khẩu pháo 105ly, 20 khẩu pháo 75 ly, 36 khẩu súng cối 120 ly, một số khẩu cao xạ pháo, súng máy cao xạ, 2 trung đoàn công binh).

Quân đội nhân dân giải phóng Trung Quốc vận dụng mọi chủ lực tiến vào Việt Nam gồm Sư đoàn 308, 312, 316, Sư đoàn công pháo 351, trung đoàn 148, Sư đoàn 320, 304. Hầu xây dựng vững mạnh đảng CS Đông Dương, chủ yếu Việt Nam ưu tiên một!

Hậu phương: Dân công chuyển ra tiền tuyến chiếm một tỉ lệ lớn trong nhiệm vụ vận tải cung cấp trên 37.800 tấn lương thực, do Trung Quốc đảm nhiệm, riêng quần chúng dân tộc biện giới Việt Nam và vùng tự trị Choang đóng góp hơn 9.500 tấn. Quả nhiên sự quyết tâm lớn chưa từng có của đảng CSTQ, hậu hỹ cung cấp cho chiến trường Việt Nam.
Bộ máy chiến tranh từ trung ương đến bộ chỉ huy chiến trường chỉ còn vận hành theo lệnh của Mao Trạch Đông.

Trên 175 tướng lãnh, chuyên gia chiến lược, quân sự và chuyên gia thành lập hành chánh từ cấp Trung Ương đến địa phương. Trước khi tuyên bố đảng CS Đông Dương. Mao Trạch Đông cho trừ bị 320.500 quân binh bên kia biên giới Quảng Tây Trung Quốc, trấn giữ hậu phương để Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh) tung hoành trong lãnh thổ Việt Nam.

Tháng 8/1950. Khi trả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ Andrew Roth. Hồ Tập Chương (HCM) thừa nhận ảnh hưởng của Trung Quốc và phong trào giải phóng Việt nam đang chuyển mình theo mô hình của Trung Quốc.

Bản thân Hồ Tập Chương (HCM) nguyên chuyên viên tình báo Quốc tế, vẫn phải có những cố vấn tình báo nhị trùng bên cạnh, đặc biệt Đại tướng Trần Canh (陈能) một tướng lãnh thứ 23 của đảng CS Trung Quốc, cùng tháp tùng có 45 nhân vật tình báo cao cấp của Hoa Nam MSS, và cấp Thượng tướng. Đảng CSTQ cài sau lưng Hồ Tập Chương những nhân vật trên với cương vị cố vấn quân sự. Buổi sơ khai thành lập đảng CSĐD, CSTQ tranh thủ dựng lên một hang hốc Pắc Bó. Thời điểm này khó ai biết rõ Hồ Chí Minh còn sống hay đã chết, chỉ có Quân Ủy Trung Ương Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, mới đủ tư cách xác nhận. Pắc Bó chỉ có Hồ Tập Chương, còn người đứng sau lưng bức màng bí mật là Mao Trạch Đông!

Theo mã số HN010232. Tình báo Trung Quốc còn ghi chú: "Ba tư liệu bí mật về HCM vẫn còn chứa bí ẩn".

1 ‒ ADN của Hồ Chí Minh, giấy khai tử tại Hương Cảnh.
2 ‒ Mục đích đổi tên đảng CS Đông Dương, thành lập đảng Lao Động VN ngày 02/9/1945.
3 ‒ Một "Cụm mây" tình báo, ai sẽ là người thực hiện "trừ khử" Tướng lãnh ngoài mặt trận, khi phản bội đảng CSTQ.

Ai là người công bố hay thực hiệc 3 yếu tố trên, khó ai biết trước vì còn một mã số ẩn, bởi vậy mỗi khi nghe tiếng hắt xì từ Bắc Kinh, tất cả nhân vật nhà nước Pắc Bó phải tuân lệnh, sau đó đổ xuống đầu dân tộc Việt Nam, một gánh phân chứa nhiều độc tố, do đảng CS Đông Dương làm chủ chiến dịch, đảng CSTQ lãnh đạo thành công. CS Đông Dương người học trò tốt, tuân lệnh ngoan ngoãn theo lời chỉ dạy, rập khuôn mẫu thực hiện, chủ yếu phá tiêu tan nguồn sinh lực dân tộc Việt Nam, càng chứng tỏ trung thành với đảng CS Quốc Tế. Đặc biệt nhiệm vụ tình báo Hoa Nam (MSS), cài nhân sự vào các cấp, trải rộng khắp mọi nơi, ngoài ra mỗi năm gửi về Trung Quốc 350 Quân, Cán, Chính đào tại Tình báo và Quân sự v.v...!

Thế hệ 1940 rất nhiểu người đầy nhiệt huyết đã từng lấy quyết định từ chối CS và không kỳ vọng vào Trung Quốc, họ từ giả trước cơn mưa rào chưa bao giờ thấm đất, và không hề xảy ra (cách mạng mùa thu 1945). Đảng CS Đông Dương chỉ nặn ra hình bóng cuộc tổng khởi nghĩa mùa Thu, mà họ cho rằng lịch sử ngày 19 tháng 8 năm 1945. Quả nhiên hình nộm của đảng CS Trung Quốc xuất hiện ngay trong bao tử của đảng CS Đông Dương, người CS xem việc kỹ thuật truyền truyên là một phương tiện đẩy mạnh mùa Thu thành phép lạ, đưa dư luận đến nông thôn ra thành thị, với những người cướp tinh thần 9 năm kháng chiến chống Pháp, chống Nhật hối hả bu vào đống phân CS Đông Dương, không bao lâu cờ đỏ búa liềm xuất hiện, trút xuống và nhuộm đỏ một phần quê hương Việt Nam, biến thành một chư hầu mới, đắc lực cho đảng CS Trung Quốc, chấp nhận làm thân ngoại lai để rồi đem dân tộc Việt Nam vào lò thiêu, nghĩa vụ CS Quốc Tế.

Trước 1940, họ quá ngu ngơ tự rước CS vào Việt Nam, đương nhiên ngày nay phải có trách nhiệm với lịch sử dân tộc Việt Nam, bởi những thế hệ mai sau không thể chấp nhận ăn phải mọi cay đắng, và không thể thấy đất nước mãi mãi điêu linh. Kẻ cố ý đem đến cho Việt Nam một tai nạn CS, khó tha thứ được bởi tội đồ của Tổ Quốc Việt Nam.

Chính những nhà lãnh đạo sát máu của đảng CSVN đã công nhận rước Trung Quốc, thực hiện lừa đào nhân dân Việt Nam. Tạo ra nội vụ chiếc áo "Lụa" của Hồ Tập Chương (HCM) toàn quốc phải trả với giá 9 tấn vàng. Số vàng này đảng Lao Động Việt Nam triều cống cho tướng lãnh Quốc Dâng Đảng.

Tiếp theo một chân sau, đảng CS Trung Quốc. Tòa án Nhân dân Tối cao CS Đông Dương, do Thượng tướng Vương Nghiên Tuyền (), nguyên chỉ huy Tình báo và Quân báo CS Trung Quốc, soạn thảo kế sách 然的 – Nhiên Đích (Ngũ sang định). 1 ‒ Khích động xã hội tranh chấp. 2 ‒ Càn quét loại bỏ tư sản, phát hành phiếu tệ. 3 ‒ Cải Cách Ruộng Đất. 4 ‒ Tập trung lao động. 5 ‒ Chiêu mộ nhập ngũ.

Đích thân Hồ Tập Chương (HCM) tiếp nhận mệnh lệnh thực hiện (Ngũ sang định). Ngoài kế sách còn có chiến dịch, khích động những gia đình "tài phú" âm thầm đóng hụi chết trên 28 tấn vàng. Ra quân đợt đầu không một âm vang nhưng đem lại thành công rực rỡ, đảng Lao Động Việt Nam rất hài lòng và triều cống cho đảng CS Trung Quốc.

Paris
by Huỳnh Tâm





Trần Thắng Lợi ( Hồ Tập Chương ) HCM trong lăng Ba đình nói về Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn Tất Thành.


́ Hình 1 và Hình 2 - Nguyễn Ái Quốc 1920 - 1921 . Hình 3 Hồ Tập Chương Tàu Hẹ
(Tặng các đồng chí chi bộ )



* HCM thật làm gì cao hơn 1m70 ???

Đảng ta


Năm 1847, Mác và Ăngghen phát biểu “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Sau 70 năm cách mạng Nga thành công. Sau 98 năm cách mạng Việt Nam thành công. Hiện nay, nước nào cũng có Đảng Cộng sản và chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn khắp thế giới. 20 triệu đảng viên cộng sản khắp các nước đang hăng hái lãnh đạo hàng trăm triệu người lao động và dân tộc bị áp bức, đấu tranh cho cuộc giải phóng của mình, cho một xã hội mới, cho chủ nghĩa cộng sản.

Đảng ta tuy trẻ trung, nhưng đã lập được những công trạng rất to tát.

Nhân ngày kỷ niệm thành lập Đảng, tôi nhắc lại vài mẩu chuyện của Đảng cho các đồng chí trẻ biết, chứ không phải viết lịch sử Đảng.

Năm 1921, trong cuộc Đại hội của Đảng Xã hội Pháp mở ở Tua (Tours), Đảng ấy chia làm hai phái. Phái thiểu số thì cứ giữ lấy Đảng Xã hội cũ. Phái đa số thì lập thành Đảng Cộng sản Pháp. Trong phái này có một người cộng sản đầu tiên của Đông Dương là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu vượt qua lưới sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp và dần dần thấm vào nước ta.

Năm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc cùng anh em cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Hội này đưa thanh niên trong nước ra Quảng Châu, huấn luyện họ, rồi phái họ trở về tuyên truyền và tổ chức khắp cả nước.

Năm 1929, trong khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về.

Sau đó, trong nước dần dần thành lập ba nhóm cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản Liên đoàn.

Một nước mà ba đảng cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau, lại càng xa nhau.

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.

Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.

Thế là Đảng ta chân chính thành lập.

Đó là ngày lịch sử mồng 6-1-1930.

Sự thống nhất làm cho đảng viên và quần chúng cả nước rất vui mừng và thêm hăng hái. Do đó mà Đảng phát triển rất mau, hoạt động rất mạnh. Từ đó trở đi, phong trào cách mạng ở nước ta đều do Đảng ta lãnh đạo.

Vì có một chủ nghĩa cách mạng nhất, một tổ chức chặt chẽ nhất, chí hy sinh tận tuỵ không bờ bến của đảng viên, có sự hăng hái vô cùng của quần chúng, nên Đảng ta thành lập không bao lâu, đã lãnh đạo được cuộc khởi nghĩa Nghệ Tĩnh, thành lập Xô viết Nghệ An. Nếu so sánh lịch sử cách mạng các nước, chúng ta có thể nói rằng Xô viết Nghệ An đối với Việt Nam cũng hơi giống cách mạng 1905 Nga.

Xô viết Nghệ An đã lôi cuốn được cả công nhân, nông dân và học sinh. Đã lập nên chính quyền nhân dân. Đã làm cho giặc Pháp kinh sợ. Thật là một cuộc cách mạng oanh liệt đầu tiên do giai cấp vô sản Việt Nam lãnh đạo.

Giặc Pháp đàn áp một cách vô cùng dã man. Hàng ngàn hàng vạn đảng viên và quần chúng bị giết chết, bị tù đày. Giặc Pháp đã xoa tay mừng rằng cách mạng Việt Nam, cộng sản Việt Nam hết rồi. Chúng nào có hiểu: Có thể ngăn sông, có thể đào núi, nhưng không có lực lượng nào có thể ngăn trở chủ nghĩa cộng sản phát triển và thực hiện.

Sau trận khủng bố ghê gớm 1930-1931, năm 1933 Đảng lại hoạt động mạnh và càng ngày càng mạnh.

Nói đến đây, tôi phải nhắc đến những đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác. Và những thanh niên cộng sản anh dũng như Trọng Con, Hồng Quang. Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ.

Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ. Một lần nữa thực dân Pháp ra tay khủng bố. Nhiều đảng viên bị bắt, bị tù. Nhưng Đảng ta vẫn đứng vững. Đảng giao cho một số đồng chí thảo kế hoạch đánh Nhật chống Pháp. Các đồng chí ấy khai hội trên một bãi cỏ ở Quảng Tây. Trong 6,7 người, tôi chỉ nhớ tên các đồng chí Phùng Tự Do (đã hy sinh ở Na Rì, Bắc Cạn), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp.

Muốn đánh giặc, phải có quân đội. Đội du kích đầu tiên của nước ta lập ở Cao Bằng, với 12 người, trong đó có hai nữ đồng chí. Đội này do các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm và Bằng Giang phụ trách. Toàn đội chỉ có một khẩu “pạc-hoọc”, hai khẩu súng kíp và giáo mác. Thấy vậy, người khác có thể cười rằng đó là trò chơi trẻ con. Nhưng chính từ cái hạt cỏn con đó mà nay đã phát triển thành hàng chục vạn Vệ quốc quân và hàng trăm vạn dân quân du kích đang oanh liệt kháng chiến từ Bắc đến Nam, làm cho giặc Pháp phải kinh hồn, thế giới phải khen phục.

Trong mấy tháng, đội du kích số một ấy phát triển đã khá. Đảng giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp cải tổ thành đội Nam tiến. Khi đã lấy lại sáu tỉnh Việt Bắc và đã lập chính quyền nhân dân, đội Nam tiến đổi tên là Quân Giải phóng. Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ Cộng hoà thành lập, Quân Giải phóng trở nên Vệ quốc quân.

Năm nay, Đảng ta mới 19 tuổi. Nhưng suốt 19 năm ấy, năm nào cũng là một năm đấu tranh dũng cảm. Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khăn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn. Nhờ chính sách đúng, lãnh đạo chắc, kỷ luật nghiêm, nhờ tư tưởng thống nhất, mà Đảng ta và dân tộc ta được những thắng lợi vẻ vang ngày nay.

Tuy vậy, chúng ta tuyệt đối không được tự kiêu, tự đại.

Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mỗi đồng chí ta cần phải mạnh dạn và thành thật kiểm điểm mình, kiểm điểm đồng chí mình.

- Đã bỏ hết bệnh chủ quan, hẹp hòi chưa?

- Đã bỏ hết tư ý tiểu khí chưa?

- Đã luôn cố gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ chưa?

- Đã thực hiện đoàn kết 100% chưa?

- Đã thật cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chưa?

- Đã thật là người kiểu mẫu trong phong trào thi đua ái quốc chưa?

Nếu chưa thì phải làm cho kỳ được.

Sứ mệnh của Đảng ta rất to. Công việc Đảng ta rất nhiều. Đảng đòi hỏi chúng ta phải làm trọn nhiệm vụ của đảng viên.

Không có vinh dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng Cộng sản. Vì vậy, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, làm công việc gì, chúng ta cũng phải kiên quyết làm cho xứng đáng với vinh hạnh ấy. Như thế, thì dân tộc giải phóng nhất định thành công, thế giới cách mạng nhất định thành công.

Trần Thắng Lợi

(Viết đầu năm 1949. Tập san Sinh hoạt nội bộ, số 13, tháng 1-1949. Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Hà Đông xuất bản thành sách năm 1950)

Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tập 5

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000
[2] Theo thông tin trên Tạp chí Cộng sản: “Tạp chí Sinh hoạt Nội bộ ra đời tháng 8-1947, với tư cách là ‘cơ quan trung ương huấn luyện công tác và lý luận’. Nhưng vì hồi bấy giờ Đảng không ra công khai, cho nên trên bìa số 1 ghi là ‘của Cứu quốc Hội’, từ số 2 đến số 13 ghi là ‘của Đoàn thể’, và từ số 14 (ra tháng 2-1949) ghi là ‘của Đảng’… Tạp chí Sinh hoạt Nội bộ do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng, trực tiếp phụ trách. Đồng chí Trường Chinh định ra kế hoạch từng số và phân công người viết bài… Từ khi ra đời (tháng 8-1947) cho đến tháng 3-1950, Sinh hoạt Nội bộ đã xuất bản được 20 số. Từ tháng 3-1950, tạp chí Sinh hoạt Nội bộ đình bản, và sau đó được thay thế bằng Tạp chí Cộng sản.”
[3] Hồ Chí Minh, sđd, tập 3
[4] Nguyên bản tiếng Pháp “Essai d’histoire du mouvement communiste en Indochine”, tác giả là Hồng Thế Công, một bút danh của Hà Huy Tập.
[5] Văn kiện Đảng, tập 4
[6] Văn kiện Đảng, tập 21
[7] Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, bản lưu hành trên Internet
[8] Văn kiện Đảng, tập 2
[9] Điều đáng lưu ý là đầu năm 1949, khi Hồ Chí Minh viết bài “Đảng ta”, Nguyễn Đức Cảnh, Châu Văn Liêm và Lê Hồng Sơn (tức Tản Anh) đã bị chính quyền thực dân Pháp giết hại từ lâu, nhưng trong số người còn lại có Nguyễn Thiệu, khi đó ở miền Nam, mà ông Hồ không hề nhắc đến. Hai năm sau, khi Hồ Tùng Mậu cũng hi sinh trong kháng chiến, hai người duy nhất còn lại ngoài Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thiệu và Trịnh Đình Cửu. Cả hai ông đều chỉ lên tới những chức vụ hữu danh vô thực bậc trung trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, một trở thành Giám đốc Viện Bảo tàng Cách mạng, một trở thành Phó Giám đốc Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện Hồ Chí Minh.
[10] Tổng bộ Việt Minh xuất bản năm 1949. Hồ Chí Minh, sđd, tập 5
[11] Hà Huy Tập, “Essai d’histoire du mouvement communiste en Indochine”, bài đã dẫn
[12] Trong bài “Kỷ niệm 3 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương” 1933, Văn kiện Đảng, tập 4, ông Hà Huy Tập cũng nói rõ rằng “đồng chí Nguyễn Ái Quốc bị ám sát trong các nhà tù địa ngục của Hồng Công“.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là gì?

Nguyễn Hùng (Danlambao) - Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là gì mà nó được một đảng, trước kia có tên đảng Cộng sản Đông Dương, rồi đảng Lao Động, đảng Cộng Sản dùng nó nhân bảng ra rất nhiều đảng viên tham nhũng, đông đến nỗi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng công khai tuyên bố dày như ghẻ ngứa, và tạo ra cũng vô số công an “còn đảng còn mình” đội lớp côn đồ du đãng chỉ chuyên khủng bố hãm hại dân lành?

Đa số người Việt Nam chỉ nghe chứ không được học tập chính qui chi tiết để thấm nhuần tư tưởng đạo đức của ông Hồ Chí Minh. Đảng cộng sản Việt Nam bắt đầu chiến dịch cổ động rùm beng “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” trong những năm đầu của thế kỷ 21 trên cả nước, kết hợp với tư tưởng cộng sản của các ông Tây Mác, Lê Nin - đã bị dân Nga và đàn em Đông Âu cho vào sọt rác, tư tưởng đại hán của ông Tàu Mao-bị dân họ không hết lời nguyền rủa.

Truy tìm tài liệu lịch sử của đảng cộng sản Việt Nam cho thấy chính ông Hồ Chí Minh đã từng thổ lộ rằng ông ta không có tư tưởng nào là của chính ông ấy mà ông chỉ học tập, nhất nhất làm theo tư tưởng và lời dạy của những đầu sỏ cộng sản Mác, Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông...

Như vậy có thật là có cái tư tưởng gọi là “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” hay không, hay đó chỉ là mớ sản phẩm ngụy tạo của lớp đảng viên đảng cộng sản có tuổi đời thuộc thế hệ 7X, 8X trong ban tuyên huấn, ban bảo vệ chính trị của đảng!?

Những người này, mơ mơ hồ hồ tự sướng, mạo tên ông Hồ Chí Minh để mị dân hầu bám víu vào ông Hồ Chí Minh để tiếp tục chế độ chuyên chính độc tài gia-đình-băng-đảng, bán đứng đất nước cho bọn đồng chí đại hán Tàu cộng, cùng với bọn lợi ích tư bản đỏ xanh cướp trắng tài nguyên quốc gia, cướp công khai, mà họ gọi là “cưỡng chế”, tài sản đất đai ruộng vườn của dân chúng mà hết đời này sang đời khác tần tảo gầy dựng.

Hồ Chí Minh thực ra đã không viết và phổ biến một luận án nghiên cứu hay một tập sách nào về tư tưởng đạo đức của ông. Những gì mà người dân Việt Nam biết và đọc qua chỉ qua những bài viết của những đảng viên tay sai thuộc lứa tuổi 7X, 8X, viết theo kiểu đơn đặt hàng/lệnh của ban tuyên huấn đảng cộng sản Việt Nam.

Các bài viết về cái gọi là “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” được ban tuyên huấn của đảng thường xuyên tung lên trên các báo chí và cơ quan truyền thông lề đảng cũng chỉ xoay vòng vòng bốn chữ: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và cái định hướng chủ nghĩa Mác Lênin đã bị khai tử tại đất nước Nga khai sinh ra nó. Ngoài cái gọi là định hướng chủ nghĩa cộng sản vô thần Mác Lê, những điều khuyên dạy về cần, kiệm, liêm, chính không phải xuất phát từ cái gọi là “tư tưởng đạo đúc Hồ Chí Minh” mà đã được ông bà chúng ta từ bao đời đã dùng để khuyên răn dạy bảo con cháu trong gia đình, dân chúng ngoài xã hội. Ngay trong chương trình học về môn Công Dân Giáo Dục tại miền Nam tự do dân chủ phi cộng sản những năm trước 1975 cũng đã hiện hữu rồi, có phải là tư tưởng gì đâu mà mạo nhận là tư tưởng lớn!

Cứ giả dụ ông Hồ Chí Minh có vài suy nghĩ của cá nhân mình về lối sống, cách cư xử của đảng viên cộng sản theo kiểu “đạo đức cộng sản”, không phải đạo đức có tính nhân bản phi phi “định hướng” của ông cha chúng ta, và sau đó được thế hệ kế tiếp của các đảng cộng sản Việt Nam chồng chéo thành “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, thổi phồng thành những “nét tư tưởng độc đáo”, trong đó một “nét” được các cây viết định hướng của đảng cộng sản Việt Nam biến dạng tâng bốc lên làm như là tư tưởng vĩ đại trên thế giới gọi là “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, hay nói đơn giản là “đạo đức cộng sản”. Đạo đức (cộng sản) Hồ Chí Minh này được toàn thể đảng viên cộng sản Việt Nam các cấp từ cơ sở đến trung ương thường xuyên học tập và thấm nhuần vào xương tủy, coi như là quyển sách nhỏ màu đỏ kê đầu nằm trong thời kỳ hồng vệ binh bên Tàu trong những năm đầu của thập niên 70, và dùng nó làm kim chỉ nam để thực hiện theo tư tưởng đạo đức (cộng sản) của ông Hồ Chí Minh trong các công tác đảng, chính quyền, tổ chức quần chúng (hành pháp), tư pháp, lập pháp (quốc hội) v.v... Không những tư tưởng và đạo đức cộng sản Hồ Chí Minh chỉ được đảng viên cộng sản học tập mà học sinh, sinh viên đều phải học. Sinh viên thuộc tất cả các ngành học bắt buộc phải thi đậu môn học “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” mới được chính thức cho tốt nghiệp đại học.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có thật sự là đạo đức có tính nhân bản hay không và nó cao siêu đến mức độ nào thì chỉ cần nhìn vào những việc làm của đảng viên đảng cộng sản hậu bối của ông Hồ Chí Minh, những mối lợi họ thâu về cho họ, cho gia đình dòng tộc họ, và những hệ quả họ đã và đang gây ra cho dân tộc và đất nước Việt Nam.

Trong những năm qua và trong thời gian gần đây, không cần nhìn vào việc làm của nhũng đảng viên tay sai thuộc loại tép riêu mà chỉ nhìn những nhân vật then chốt, đầu não trong guồng máy cai trị dân Việt Nam của đảng cộng sản Việt Nam biến chất thì biết được “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” là như thế nào. Nhìn đám học trò đảng viên đảng cộng sản của ông Hồ Chí Minh hiện nay thì biết được giá trị của loại “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” mà đảng cộng sản Việt Nam hiên nay đang cố sức quảng bá. Họ quả đã “HÀNH” đúng với những điệu họ “HỌC” từ “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”.

Vài bằng chứng cụ thể dưới đây phơi bày rõ kết quả học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của các đảng viên cao cấp, quan chức nhà nước cấp Thứ trưởng, Bộ Trưởng có chân trong ủy ban trung ương đảng, trong bộ chính trị, chủ tịch phó chủ tịch các tập đoàn kinh tế quốc doanh, các cơ quan nhà nước. Họ chia nhau “ăn” không chỉ vài chục triệu đồng tiền cụ Hồ mà vài triệu đồng tiền cụ Washington (USD) cho mỗi “phi vụ”. Đây chỉ là phần nổi của tản băng khổng lồ “ghẻ ngứa, bầy sâu ăn không từ thứ gì”:

- Đồng chí đảng viên cộng sản cao cấp Bùi Tiến Dũng chỉ với chức vụ Tổng giám đốc văn phòng PMU 18 chịu trách nhiệm quản lý các dự án viện trợ chương trình ODP trị giá nhiều tỷ USD thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải, cá độ bóng đá mỗi lần gần 2 triệu USD.

- Đồng chí đảng viên cao cấp Phạm Thanh Bình chủ tịch tập đoàn quốc doanh Vinashin và vụ bê bối làm thất thoát (vào túi riêng) và nợ hơn 90 ngàn tỷ đồng (hơn 4 tỷ USD).

- Một cú điện thoại mật báo cho đồng chí đảng viên cộng sản cao cấp Dương Chí Dũng chủ tịch tập đoàn quốc doanh Vinaline, đồng chí đảng viên cộng sản cao cấp Thứ Trưởng công an Thượng tướng Phạm Quý Ngọ đã bỏ túi hơn triệu Đô US.

- Bộ Trưởng bộ Công an đồng chí đảng viên cộng sản cao cấp ủy viên bộ chính trị Đại tướng Trần Đại Quang được đồng chí đảng viên đảng cộng sản Phạm Chí Dũng nêu đích danh trong vụ án tham nhũng tại tập đoàn Vinaline.

- Vụ cán bộ ngân hàng VietinBank Huỳnh Thị Huyền Như lừa đảo gần 4 tỷ đồng; Vụ cố ý làm trái về quản lý vốn gây hậu quả nghiêm trọng tại Sở quản lý kinh doanh vốn và ngoại tệ Ngân hàng NN-PTNT; Vụ lợi dụng chức vụ quyền hạn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam; Vụ án lừa đảo bầu Kiên Nguyễn Đức Kiên Phó chủ tịch Tập đoàn Ngân hàng Thương mãi Cổ phần Á châu (ACB)...

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là gì mà lại tạo ra lớp đảng viên tham nhũng nhiều đến nỗi mà chính đồng chí đảng viên cộng sản cao nhất Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng công khai tuyên bố “chúng nó” dày như ghẻ ngứa; bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Đoan cũng lên tiếng: “người ta (đảng viên đảng cộng sản VN) ăn của dân không từ cái gì!”; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phải thốt lên: “Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm... Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là 'chết' cái đất nước này”; và đội ngũ công an chỉ biết “còn đảng còn mình” từ Bộ Trưởng xuống tới công an khu vực cũng là sâu, ăn của dân không chừa thứ gì, công khai đội lớp côn đồ du đãng đông như dòi, như giun sán chỉ chuyên hại dân, hà hiếp khủng bố người yêu nước chống xâm lược Tàu, chống bọn quan tham nhũng, chống bọn tư bản đỏ bóc lột sức lao động của công nhân??

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh rốt cuộc là gì?

Chỉ có thể trả lời câu hỏi này bằng những câu thơ của đồng chí Tố Hữu đảng viên cao cấp của đảng cộng sản Ủy viên Bộ chính trị, học trò và là truyền nhân của ông Hồ Chí Minh, viết về đảng cộng sản và “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghĩ
Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin... bất diệt”


Mùng 7 Tết Giáp Ngọ, ngày 06/01/2014


“Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi.” (tuyển tập HCM)

“Gần đây những bí mật của ông Hồ Chí Minh đã bị phơi bày. Chúng tôi, hầu hết là đảng viên, vẫn thường vui vẻ đùa cợt, có những bài vè chế giễu, nhưng rất đúng về nhân vật này. Ông Hồ Chí Minh đã bị nghi ngờ là một người Trung quốc, có tên là Hồ Tập Chương, do Quốc tế cộng sản dựng lên, thay thế cho Nguyễn Ái Quốc, người đã chết năm 1932. Mọi niềm tin đã bị đánh cắp. Tôi tuyên bố ra khỏi đảng. - Đặng Xương Hùng.

Bảo Giang (Danlambao) - Lời đoạn tuyệt với Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của Đặng Xương Hùng biểu lộ một tâm tình trong sáng về với cái thật. Cái thật mà anh đã bị đánh cắp bằng lừa dối, bằng gian trá của cộng sản. Nó hoàn toàn khác với cái toan tính, có thể vẫn là không thật của Lê Hiếu Đằng - cũng đã thoái đảng, nhưng với lý do: “Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ không còn như trước - đấu tranh giải phóng dân tộc - mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân...”

*

Khi cái thước thợ đặt lên bàn, nó chỉ có thể kẻ được những đường thẳng. Tuy thế, người ta vẫn không ngừng che giấu những sự thật, để được sống trong gian dối!

Cái chết của Nông Thị Xuân là một điển hình. Cái chết được che đậy bằng một thứ bạo quyền lực tuyệt đối. Được tính toán ngụy trang bằng một tai nạn giao thông để triệt, xóa án. Kết quả, chỉ vài chục năm sau, câu chuyện ấy hầu như không ai mà không nghe biết là: Trần Quốc Hoàn đã dùng búa đập đầu, giết cô Nông Thị Xuân theo lệnh của Hồ Chí Minh? Rồi quăng xác của cô ra ngoài đường với mưu đồ già làm tai nạn lưu thông, triệt bí mật. Tuy thế, trời bất dung gian. Đã chẳng có chiếc xe nào, kể cả các loại xe côn đồ do Hoàn chỉ huy chịu cán đè lên cái xác đã chét ấy để cho Hoàn đến lập biên bản. Thay vào đó là giấy chứng nhận, không được công bố ra ngoài, của các y sĩ pháp y tại bệnh viện. “Nạn chân chết vì bị vỡ sọ, toàn thân không có một dấu vết nào do tai nạn”! Người được đọc qua giấy chứng tử ấy là Nguyễn Thị Vàng, và một người chị em khác tên Nguyệt, nhanh chân về Bắc Giang để báo tin cho người nhà, đều không thoát khỏi cái búa diệt khẩu của Hoàn. Nhưng vụ án không kết thúc ở ba cái chết thê thảm này, nhưng là treo vào cổ những tên sát nhân.

Rồi ở miền nam, vào năm 1963 cũng có một vụ án mạng kinh thiên động địa có thể còn hơn thế. Một tốp người với danh xưng, tưởng không còn gì lững lẫy và oai vệ hơn, “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” bao gồm những Minh, Khiêm, Đôn, Đính, Xuân, Mậu, Lắm, Nghĩa, Nhung... đã thảm sát Tổng Thống Ngô đình Diệm và bào huynh của ông là Ngô Đình Nhu trong lòng chiếc thiết vận xa một cách man rợ. Nhóm này đã đưa ra một bản tin láo khoét để lừa bịp dân chúng là hai ông đã tự vận. Kết quả, chỉ ba tháng sau thì sự việc dã phơi bày ra ánh sáng. Nhung đã đền tội trong trại Hoàng Hoa Thám. Rồi những “ông cách mạng” kia đã được trao cho cái danh hiệu để đời “những tên côn đồ ác ôn đáng nguyền rủa” (tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson)! Quả là một nghiệp chướng! Còn hơn cả nghiệp chướng là không một ai trong số ấy dám hé răng nói lại nửa lời phản bác!

Trở lại câu chuyện, ngọn đèn đặt trên giá, soi sáng cho cả nhà. Vào thời gian gần đây, nhất là sau khi cuốn “Bình Sinh Khảo” của tác giả Hồ Tuấn Hùng viết về Hồ Chí Minh, được ông Thái Văn dịch ra tiếng Việt. Bất cứ nơi đâu, ở trong nước hay hải ngoại, người ta đều thắc mắc:

- Hồ Chí Minh là ai?

- Hồ Chí minh là người Tàu hay là người Việt Nam? Y là Hồ Tập Chương hay Nguyễn Tất Thành?

Lại có nhiều người phản ứng như là đã có đầy đủ bằng chứng chắc chắn HCM là người Tàu, nên đã nói toạc ra là:

- Vì không phải là người Việt Nam nên Y mới tàn ác và đấu tố, giết dân mình theo sách của Tàu.

- Vì là người Tàu, nên vào năm 1952, lúc chưa nắm được quyền Y đã lệnh cho Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) dâng Việt Nam cho Trung cộng bằng cách, viết lời kêu gọi đồng bào bỏ chữ Quốc Ngữ học chữ Tàu và xin làm phiên thuộc cho Tàu...

- Và còn nhiều lời luận tội bắt đầu bằng câu khai mào tương tự như thế.

Tôi không biết những lời nói mà ai cũng có thể nghe thấy như thế, có phải là một kết án vội vàng hay không? Chỉ thấy phía CS hoàn toàn im lặng, không dám lên tiếng, dù chỉ nửa lời phản bác cuốn sách của Hồ Tuấn Hùng. Họ im lặng như “những kẻ côn đồ đáng nguyền rủa”! Và còn tồi tệ hơn thế, họ rất tích cực chứng minh cho những lời kết án trên là đúng khi tiếp tục, hung hãn ra tay bắt bớ và giam cầm những thanh niên yêu nước quyết chống trả cuộc đô hộ từ phương bắc. Nhưng không dám có lấy một phản ứng nào đáp trả khi ngư dân của Việt Nam ra khơi thả lưới bị Trung cộng ức chế, bắt bớ và đánh đập. Thái độ của họ xem ra là hết sức nghịch lý đối với nhiệm vụ của một tập hợp được gọi là “nhà nước”! Không biết họ là chính phủ hay là một tập thể thái thú, nô lệ?

Viết đến đây, tôi nhớ đến một câu chuyện trong cổ sử của Việt Nam. Đó là trường hợp của Cù Thị và Triệu Minh Vương. Liệu Hồ Chí Minh, có phải là một hình thức khác trong câu chuyện Cù Thị, Triệu Minh Vương trên đất Việt hôm nay không? Theo dòng sử liệu “Triệu Kiến Đức là con của Triệu Minh Vương, mẹ ông là người Việt. Vua cha không chọn ông nối nghiệp mà chọn Triệu Hưng là con của hoàng hậu người Hoa Cù thị. Cù Hậu tư thông với sứ giả nhà Hán là An Quốc Thiếu Quý, muốn mang Nam Việt quy phục nhà Hán. Triệu Ai Vương còn trẻ, chỉ biết nghe theo lời mẹ. Kết quả là Thừa tướng Lữ Gia giết Cù hậu, Ai Vương và cả Thiếu Quý. Sau đó, đưa Kiến Đức kế vị, tức là Triệu Dương Vương. Sử ký Tư Mã Thiên chép (q. 113, t. 5b): "Lữ Gia... và các quận huyện lập con trai trưởng của Minh Vương, con người vợ Việt Nam là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua.

Câu chuyện hôm nay tuy có khác xưa, nhưng xem ra có cùng một mục đích là HCM và tập đoàn CS muốn đưa Việt Nam vào vòng nô lệ cho Tàu. Theo đó, càng ngày người dân càng mong mỏi có một Lữ Gia đứng lên chém Cù Thị, hạ Trần Hưng, để bảo vệ giang sơn và dân tộc Việt! Nhưng lý do nào tôi cho Hồ chí Minh là một Triệu Hưng thời đại?

1. Lời tự khai của Hồ Chí Minh

Tháng giêng năm 1949, tạp chí "Sinh hoạt nội bộ" kỳ thứ 13 của Việt Nam có đăng tải một bài viết nhan đề "Đảng ta" do Hồ Chí Minh viết dưới bút danh Trần Thắng Lợi. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã đưa "Đảng ta" vào Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 547. Bài viết này đã được TG Hồ Tuấn Hùng ghi lại trong Bình Sinh Khảo, thiên II, nhan đề “Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người”, như sau:

“Năm 1929 (chính xác là ngày 19 tháng giêng năm 1929), trong khi đồng chí Nguyễn ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về...

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu (chính xác là ngày 20 tháng giêng năm 1930), cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám. Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng. Thế là Đảng ta chân chính thành lập...” (Trần Thắng Lợi, tức Hồ chí Minh))

Ôi! Nó chân chính theo hệ... Tầu làm sao chứ!

Tưởng cũng cần nhắc lại là - theo tài liệu do nhà cầm quyền cộng sản công bố trong “Những tên gọi bí danh, bút danh của Hồ Chí Minh; do NXB Chính trị Quốc Gia - Hà Nội 2001, có tất cả là 169 cái tên chính! Bút danh Trần Thắng Lợi, là một cái tên chính thức, mang số thứ tự thứ 114 trong tổng số 169 bí danh, bút hiệu, tên gọi của HCM.

Cũng theo nhiều tài liệu của họ, bảy ủy viên đứng ra thành lập đảng CS lúc bấy giờ là: Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Trịnh Đình Cửu, Lê Tản Anh, Trần Văn Cung, Lê Hồng Sơn và Hồ Tập Chương (*)

(*) Theo tác giả Hồ Tuấn Hùng, Hồ Tập Chương là người Tàu, là ủy viên liên lạc của CSQT trong hội nghị trù bị thành lập đảng cộng sản Đông Dương 3-2-1930. Trong nội bộ, Chương đã sử dụng cái tên Hồ Chí Minh ngay từ thời gian này. Ông Hồ Tuấn Hùng viết “Thời gian từ năm 1929 đến năm 1933, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương cùng hoạt động trên vũ đài chính trị, đặc biệt vào năm 1930 và nửa đầu năm 1931, hai người từng nhiều lần qua lại làm việc với nhau. Sở dĩ vào sau năm 1934, Quốc tế cộng sản có ý đồ lấy Hồ Tập Chương thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc, là bởi vì vào những năm 1929 đến năm 1933, hầu hết những hoạt động của Hồ Tập Chương đều mang tên Hồ Chí Minh. Do đó mọi việc Hồ Tập Chương làm đều được hiểu một cách sai lầm là của Nguyễn Ái Quốc.” (Hồ Tuấn Hùng - Bình Sinh khảo).

Trong đoạn văn tường thuật ngắn trên, có đến hai lần Hồ Chí Minh tự xác nhận Y và Nguyễn ái Quốc là hai người hoàn toàn khác nhau.

a. “Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi”. Đoạn này xác định rõ ràng Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh (tôi, tác giả bài viết) là hai người hoàn toàn khác nhau. Khác nhau như vợ với chồng, hai người nam, nữ khác biệt nhưng là một cặp.

b. “Sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất...” xác nhận công lao của Nguyễn ái Quốc, trong việc kết hợp ba nhóm lại với nhau. Và cá nhân Hồ Chí Minh chỉ là một phần trong chữ “mọi người” mà thôi.

Với sự các nhận này, Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người, nhưng là hai người có lý lịch riêng biệt. Xin nhớ, đây không phải là một bài báo thường. Trái lại, bài viết mang tính cách lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vì, nó được chính một trong bảy ủy viên dự hội nghị còn sống, lại đang giữ vai trò lớn nhất trong đảng, viết lại sự việc thành lập đảng của mình. Một câu, một chữ trong bài viết ấy là lịch sử đảng. Theo đó, đảng Cộng sản VN, toàn là những người đến và theo sau cái sự kiện ban đầu 3-2-1930 ấy, không ai có bất cứ một tư cách nào để phủ nhận về những sự kiện lịch sử do chính người ủy viên thành lập đảng viết ra. Nghĩa là, bất cứ một thứ biện luận nào, dù cho là, vì có là sự nhầm lẫn trong in ấn, trong câu văn, để phủ nhận sự kiện “đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi” là hai người, do chính Hồ Chí Minh viết ra là không thể chấp nhận được. Bởi lẽ, sự phủ nhận ấy chính là sự phủ nhận về tính lịch sử và sự việc thành lập đảng cộng sản vào ngày 3-2-1930. Xin nhớ, đây là bài viết duy nhất về việc thành lập đảng CS, không có bài viết thứ hai của bất cứ một trong bảy ủy viên tham dự nào khác. Như thế, cũng không thể có sự kiện người này nhớ đúng người đi kia nhớ sai!

2. Những lời phủ nhận, ngoài bản văn, từ Hồ chí Minh

Tuy đã vào Hà nội từ 1945, nhưng xem ra, bản thân Hồ Chí Minh còn e ngại rất nhiều chuyện, nên không dám đương nhiên nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Việc Y không dám coi trời bằng vung, rồi tự cho mình là Nguyễn Ái Quốc ngay từ đầu không phải là không có lý do.

Thứ nhất, vừa mới chân ướt chân ráo vào Hà Nội là lần lượt bà Nguyễn Thị Thanh, rồi ông Nguyễn Sinh Khiêm thay nhau, quần nâu áo vải từ quê nhà Nam Đàn lặn lội ra tận Hà Nội xin gặp HCM, sau khi nghe tin phong phanh HCM là Nguyễn Tất Thành. Chuyện anh em họ tìm gặp nhau là phải đạo, nhưng với Hồ Chí Minh có thể là một đại họa. Theo đó, Y không thể để họ thăm mình như anh em ruột thịt thường tình, nên được thay vào đó là vở tuồng: “bác bận việc nước, không tiếp được, bà bằng lòng vậy nhá!” để cho bà Nguyễn Thị Thanh lủi thủi ra về. Uất lên mà chết! Phần ông Nguyễn sinh Khiêm thì nghe nói, được tiếp dưới ngọn đèn mờ không nhìn rõ mặt nhau và câu chuyện cũng chẳng kéo dài quá năm phút. Tại sao phải gặp nhau trong nhà kín, dưới đèn mờ? Có phải ngoài cái hình dạng của Hồ Chí Minh có thể gây ra đại họa cho Hồ Tập Chương, còn có chuyện nhà, chuyện anh em đưa nhau đi ăn xin khi xưa cũng là cái thòng lọng để Hồ Chí Minh tự buộc vào cổ mình, nên HCM không dám gặp mặt những người này? Có thể là như thê, bởi lẽ, Y có thể học được tiếng Việt giọng Nghệ rất chỉnh, khuôn mặt, tai mắt, mũi được chỉnh hình cắt xén thật giống với Nguyễn Sinh Cung. Nhưng không thể biết được những câu chuyện mà chỉ có anh em Nguyễn Sinh Cung mới biết!

Sau cuộc tiếp ông Khiêm? Dĩ nhiên, Hồ Chí Minh tự biết, không phải chỉ có bấy nhiêu người biết rõ về Nguyễn Sinh Cung còn sống. Theo đó, nếu muốn nhận mình là Nguyễn Sinh Cung thì phải tuyệt đối im lặng và chờ đợi thời gian thuận tiện, và có thể ngụy tạo thân phận để nhờ người khác tình cờ khám phá ra hơn là tự công bố. Y tuyệt đối không dám khinh suất vì có thể bị lộ thân phận do những duyên cớ bất ngờ, không thể dự trù trước. Và đó có thể là một tính toán để chính Hồ Chí Minh đã nhiều lần công khai xác nhận Y không phải là Nguyễn Ái Quốc, như ông Hoàng Văn Chí ghi trong "Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam", thì ông Hồ nhiều lần đã nói ông không phải là Nguyễn Ái Quốc! Rồi về phía người ngoại quốc cũng thế. Ngay cả khi tướng Salan, đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, Y vẫn một mực chối cãi. Ông không phải là Nguyễn Ái Quốc.

Việc này cũng được kể lại trong “Truyện Hồ Chí Minh” của William J. Duiker, trang 449 như sau: “Trước đây, Hồ Chí Minh chưa thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, nên vào năm 1946, khi triệu tập Hội nghị Quốc dân đại hội, Bộ trưởng Lao động Nguyễn Văn Thái có đề nghị vinh danh Hồ Chí Minh là "công dân số một" của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bởi lẽ, lúc ấy thân phận Hồ Chí Minh chưa được xác nhận là Nguyễn Ái Quốc (nhiều người cho rằng). Hồ Chí Minh chính là Hoa kiều tại Việt Nam, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, là phái viên "Quốc tế cộng sản" được cử đến Việt Nam với nhiệm vụ thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.". (Bình Sinh Khảo)

3. Những phủ nhận bằng hành động của Hồ chí Minh

Khi Hồ Chí Minh từ chối gặp bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Sinh Khiêm thì rõ ràng là Y đã từ chối nhận anh em, nhận họ hàng với những người này. Bởi lẽ, như tôi viết ở trên, anh em ruột thịt xa cách nhau hằng mấy chục năm trời, thì không một người nào, không một lý do nào có thể ngăn cản họ gặp nhau và chuyện vãn hết ngày này sang ngày khác. Nhưng HCM thì khác. Y cũng là con người, không phải là khúc cây cục đá, lại không theo khuôn mẫu con người. Y chẳng một lần muốn gặp họ. Đã thế, cũng chỉ viết thư chia buồn với giòng họ Nguyễn Sinh khi Nguyễn Sinh Khiêm qua đời và ký tên là Chí Minh! Sao mà nó nhảm nhí đến như thế nhỉ? Tại sao cả hai người lại chết sớm thế? Liệu cái chết sớm của bà Thanh và ông Khiêm, cũng như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai có là một bí ẩn, hoặc, có liên quan gì đến việc phải bảo toàn tông tích của HCM không bị tiết lộ hay chăng?

Nếu không, thì cũng chỉ có thể suy diễn là Y không có tình máu mủ với những người này. Vì không có tình máu mủ ruột thịt, nên Hồ phải chờ cho đến khi những người này đã chết mục mả, năm 1957, HCM mới dám lò mò về Nam Đàn, và sau đó, (1958) lần hồi cho người ta biết Y là Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên, khi về Nam Đàn, HCM lại vấp phải một tai họa khác mà Y không không ngờ tới là. Y tự để cho bia miệng truyền đến đời đời, nguyễn rủa Y như một tên đại bất hiếu nếu y là Nguyễn Sinh Cung. Lý do, khán đài nơi Y đứng... ba hoa, chỉ cách mộ bà Hoàng Thị Loan có vài trăm mét, nhưng Y đã không đến thắp nhang cho bà. Như thế, bà là kẻ bạc phước hay Hồ Chí Minh là kẻ bất hiếu đây?

Chuyện HCM không thắp nhang cho bà mang ý nghĩa gì? Có phải HCM tự cho mình đã là chủ tịch nửa nước, phần bà già nhà quê nằm trong cái mộ kia không đáng để cho Y đến gọi mẹ, và nhận một nén nhang đạo hiếu của Y? Hay còn vì một lý do nào khác? Chẳng lẽ, một người rất tài gian dối, giỏi đóng kịch lại không thể đóng nốt vở tuồng đạo hiếu với ngôi mộ kia để làm tuyên truyền truyền ư? Tôi không nghĩ HCM nằm trong hai trường hợp này. Nhưng đơn giản hơn, vì một ý do khác. Người nằm dưới mộ sâu kia không phải là mẹ của Y. Nên dù rất muốn, Y cũng không thể đóng kịch được. Hơn thế, đó còn là lòng tự ái dân tộc trong lòng của Y. HCM không thể cúi đầu lạy nấm mộ như là người con, dù Y đang đóng vai là con của bà. Ngoài ra, không có một lý do nào khác để biện minh.

Đó là câu chuyện cũ về Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc. Nhưng dầu có giỏi tính toán gian trá đến đâu thì cũng sẽ bị phá vỡ. Nghĩa là, chuyện Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương chỉ còn trong sớm tối sẽ bị bóc trần. Nó sẽ bị bóc trần và khai tử bởi chính những đảng viên cộng sản. Bằng chứng là, những người đảng viên cộng sản trẻ tuổi, có tri thức, có văn hóa, có hiểu biết, điển hình như Đặng Xương Hùng, đã công khai, minh bạch về việc ra khỏi đảng CSVN bằng một lý do mà không ai ngờ tới là. Các đảng viên như Hùng đã nghi ngờ, không phải chỉ vì cái phẩm chất man rợ của đảng cộng sản và Hồ chí Minh, nhưng còn là sự kiện dối trá, Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương nữa! Anh Đặng Xương Hùng viết:

“Gần đây những bí mật của ông Hồ Chí Minh đã bị phơi bày. Chúng tôi, hầu hết là đảng viên, vẫn thường vui vẻ đùa cợt, có những bài vè chế giễu, nhưng rất đúng về nhân vật này. Ông Hồ Chí Minh đã bị nghi ngờ là một người Trung quốc, có tên là Hồ Tập Chương, do Quốc tế cộng sản dựng lên, thay thế cho Nguyễn Ái Quốc, người đã chết năm 1932. Mọi niềm tin đã bị đánh cắp. Tôi tuyên bố ra khỏi đảng. Ngày 5/12/2013 Đặng Xương Hùng.

Tôi trân trọng lý do ra khỏi đảng của anh. Hơn thế, tôi trân trọng tinh thần nhân bản trong con người của anh. Bởi vì, lý do ấy là tình người và lý trí Việt Nam. Điều ấy cũng có nghĩa, Đặng Xương Hùng không chỉ đoạn tuyệt với cái giả dối, cái gian trá của cá nhân Hồ Tập Chương trong vai Hồ Chí Minh, nhưng còn là tập thể đảng cộng sản nữa. Anh đã nói lên một điều mà tôi cho rằng, tất cả các đoàn đảng viên đảng CSVN có học, có tri thức, có hiểu biết, phải nghĩ đến và quay về phục vụ cho quyền lợi của Tổ Quốc và dân tộc Việt Nam. Họ không thể tự lừa dối mình, tiếp tục nhận giặc làm cha, thờ Hồ Tập Chương và phục vụ cho quyền lợi của CS Trung quốc để kiếm bổng lộc riêng mà quên đi Tổ Quốc và đồng bào Việt Nam của mình. Bởi vì, theo lời Đặng Xương Hùng tiết lộ, “hầu hét là đảng viên vẫn thường vui vẻ đùa cợt”. Nghĩa là họ chẳng còn tin gì HCM. Hơn thế, họ đã nghi ngờ HCM là Hồ Tập Chương, người tàu, đóng thế vai HCM để mưu đồ chiếm đoạt đất nước và chế ngự dân ta. Một khi đã biết như thế mà các đảng viên CS không có thái độ dứt khoát thì khó tránh phần nhiệm trước lịch sử, nếu như không muốn nói đó là một trọng tội với tổ quốc và dân tộc Việt Nam.

Kế đến, lời đoạn tuyệt với Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của Đặng Xương Hùng phải được coi là vì tương lai của dân tộc và của đất nước Việt Nam. Nó biểu lộ một tâm tình trong sáng về với cái thật. Cái thật mà anh đã bị đánh cắp bằng lừa dối, bằng gian trá của cộng sản. Nó hoàn toàn khác với cái toan tính, có thể vẫn là không thật của Lê Hiếu Đằng. Ông Lê Hiếu Đằng cũng đã thoái đảng, nhưng với lý do: “Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ không còn như trước - đấu tranh giải phóng dân tộc - mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân...”

Lê Hiếu Đằng viết thế là hoàn toàn sai trái, là gian trá, lừa mình bịp đời, là thể hiện một não trạng nô lệ cộng sản. Vì thực tế, ngay từ khi thành lập đảng cộng sản 3-2-1930, cộng sản đã là một lực cản phá hoại sự tiến bộ của đất nước. Chính đảng cộng sản bằng muôn vàn những gian trá đã đưa cả dân tộc làm nô lệ cho cộng sản. Từ đó, đọa đày, đẩy dân tộc vào con đường u tối lầm than, khốn cùng trên mọi phương diện, từ chính trị, văn hóa đến xã hội. Nó đã đưa đất nước tụt hậu, lại còn tước đoạt tất cả mọi quyền tự do căn bản của con người. Những quyền tự do mà ngay thời pháp, thời phong kiến người dân đã có. Thế đấy, đảng cộng sản xưa khá hơn nay ở cái điểm nào? Đảng cộng sản giải phóng dân tộc ở điểm nào mà Lê Hiếu Đằng ngoa ngữ tuyên truyền cho cộng sản đến khi xuôi tay?

Rõ ràng, khi cái thước đặt lên bàn, nó chỉ có thể kẻ được những đường thẳng. Nó không có khả năng quanh co. Sự thật cũng thế. Hơn lúc nào hết, người dân Việt Nam, mong mỏi những đoàn đảng viên đảng CSVN nhận thức đúng đắn được sự kiện bản thân họ đã bị lừa dối, bị gạt gẫm như Đặng Xương Hùng, Để từ đó, họ quay về, thể hiện lòng yêu nước nhân bản của người Việt Nam. Cùng đứng dậy, bỏ đảng, làm những Lữ Gia của thế kỷ, để giải phóng dân tộc ra khỏi ách nô lệ của cộng sản. Và dập tan mưu đồ dâng Việt Nam cho Tàu mà Hồ Chí Minh, (Hồ Tập Chương) cũng như Đặng Xuân Khu và tập đoàn lãnh đạo CS đã ra sức thực hiện trên đất nước ta từ 3-2-1930 đến nay. Có thế, đất nước và dân tộc Việt Nam mới có ngày mai. Được như thế, chúng ta mới có cơ hội xóa sổ toàn bộ những bản văn bản bất cân xứng, thiểu năng hay những thỏa thuận ngầm giữa Việt cộng với Trung cộng. Từ đó, chúng ta mới có thể tính đến chuyện đòi lại đất, đòi lại biển về cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam.

2-2014



HCM True History 2


Smile

* GIẤY CHỨNG NHẬN UNESCO ViNH DANH Hồ Chí Minh Ở ĐÂU ???.


Tác giả MrLecongnhan



ĐCSVN luôn TRUYÊN TRUYỀN rằng HỒ CHÍ MINH ĐƯỢC UNESCO VINH DANH LÀ DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI (?!) . Vậy TẠI SAO họ không thể đưa ra trước công luận GIẤY CHỨNG NHẬN CỦA UNESCO về việc VINH DANH HỒ CHÍ MINH ?

Đơn cử dẫn chứng một vài GIẤY CHỨNG NHẬN về Lịch sử Văn Hóa của UNESCO đã trao tặng cho Việt Nam mà ĐCSVN đã trưng ra :


Giấy chứng nhận di sản thế giới của UNESCO cho Bia Tiến Sĩ Hà Nội receives UNESCO world heritage certificate for doctoral steles
http://hanoi1000yrs.vietnam.gov.vn/Home/Ha-Noi-receives-UNESCO-world-heritage-certificate-for-doctoral-steles/20104/4799.vgp




Giấy chứng nhận Di sản Lễ hội Thánh Gióng
Gióng Festival’s Heritage certificate received
http://hanoi1000yrs.vietnam.gov.vn/Home/Giong-Festivals-Heritage-certificate-received/20111/4943.vgp




Giấy chứng nhận công nhận Hoàng thành Thăng Long - Di sản văn hóa thế giới.
http://english.vov.vn/Home/1000th-Thang-LongHanoi-celebration-anniversary-begins/201010/120071.vov

(UNESCO) trao giấy chứng nhận công nhận Hoàng thành Thăng Long - Di sản văn hóa thế giới.



Vậy Giấy Chứng Nhận của UNESCO vinh danh cho Hồ chí Minh đâu ?

Câu trả lời bằng điện thư từ ngài Roni Amelan /English Edito/ UNESCO Press Service: "...không thể tìm thấy bất cứ thông tin gì về việc Hồ Chí Minh nhận được giải thưởng của UNESCO...Có lẽ là quyết định của Hội nghị thường kì về việc yêu cầu hỗ trợ của UNESCO cho lễ kỷ niệm trăm năm đã bị hiểu lầm hoặc dịch sai nghĩa là Chủ tịch đã được trao một giải thưởng... " Vì vậy không ai có thể tìm thấy Kỷ niệm chương UNESCO vinh danh Hồ Chí Minh trong hồ sơ lưu trữ của UNESCO; ĐCSVN không bao giờ có thtrưng ra cái mà họ gọi là Giấy Chứng Nhận của UNESCO vinh danh cho Hồ chí Minh . Sự thật chỉ có nghị quyết Unesco sẽ trợ cấp cho Hà nội một ngân khoản để tổ chức lể kỷ niệm 100 năm taị trụ sở Unesco Hà nội , chứ không có văn bản Nghị Quyết Tôn Vinh HCM là danh nhân văn hóa thế giới. Sự thật còn tệ hơn là trước năm 1990 ỦY BAN TỐ CÁO TÔI ÁC HỒ CHÍ MINH đã vận động kiều bào Hoa Kỳ, Úc, Canada và Âu Châu, viết thư cho Unesco phản đối Quyết nghị sai lầm kia và vạch trần tội ác Hồ Chí Minh từ khi nắm chánh quyền ở Hà nội qua các biến cố như vụ Nhân văn Giai phẩm, cải cách ruộng đất, vụ thảm sát Mậu Thân Huế ... và chứng minh được Ngày 19 Tháng 5 không phải là ngày sinh của Hồ Chí Minh ... Cho nên Giám Đốc Đông Nam Á Sự Vụ UNESCO lúc đó đã tuyên bố rằng "Chúng tôi không có quyền huỷ bỏ cái nghị quyết. Chúng tôi chỉ làm được một việc là không thi hành cái nghị quyết đó. Và chúng tôi thông báo rằng Thị Xã Paris, Chính Phủ Pháp , UNESCO không tham dự, và UNESCO không tổ chức cái lễ đó tại trụ sở UNESCO và cũng không thi hành cái nghị quyết là sẽ trợ cấp một khoản cho Hà Nội tổ chức tại Hà Nội" ( Trích lời Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần_ UNESCO có vinh danh ông Hồ Chí Minh hay không? ) Do Nghị Quyết kỷ niệm sinh nhật 100 năm ngày sinh của HCM đã bị chính "Unesco vô hiệu hóa" nên UNESCO không tổ chức mà VN phải tự thuê 1 phòng để kỷ niệm dưới hình thức biểu diễn văn nghệ . Do đó Hồ Chí Minh không có kỷ niệm chương trong danh mục KỶ NIỆM CHƯƠNG UNESCO

Đáng tiếc, ĐCSVN vấn tiếp tục lừa bịp nhân dân VN về cái gọi là" NGHỊ QUYẾT UNESCO TÔN VINH ". Đáng buồn, không may và bỉ mặt cho ĐCSVN bởi k nguyên tin học, Internet đã vạch trần tất cả .
TREO ĐẦU DÊ BÁN THỊT CHÓ :

Thực tế cho thấy ĐCSVN và cả một hệ thống truyền thông rất cố chấp và phi lý . Thí dụ : hình chụp trên báo Hà Nội Mới và Báo Điện tử Chính Phủ VN tiêu đề : TRAO TẶNG NGHỊ QUYẾT UNESCO TÔN VINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (!?). Nhưng hình minh họa kèm theo lại trưng dẫn ảnh : Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh trao sách ảnh tư liệu về Bác Hồ cho Tổng Giám đốc UNESCO (!?) mà không thấy ảnh của cái gọi là NGHỊ QUYẾT UNESCO TÔN VINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH . Là một trò lừa bịp trắng trợn "treo đầu Dê bán thị Chó" coi thường Nhân Dân của ĐCSVN.





http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Trao-tang-ban-Nghi-quyet-UNESCO-ton-vinh-Chu-tich-Ho-Chi-Minh/201010/37063.vgp